Đức Phật Chỉ Cần Được Hiểu

Written by
auth-avtHieu.BuiMinh
Published onJanuary 11, 2025
Views0
Comments0

Nguồn:

Chánh pháp không cần ai bảo vệ, chánh pháp cần được hiểu. Đức Phật không cần ai tô vẽ mà Đức Phật chỉ cần được hiểu.

Sư Giác Nguyên

Cách đây vô lượng kiếp về trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng là một người y chang như chúng ta. Cũng phiền não, tham sân si, ái, mạn, kiến, nghi đầy ắp. Rồi có một ngày Ngài nhìn thấy cảnh sanh già đau chết, Ngài mới nghĩ rằng có sáng thì có tối, có dài có ngắn, có trắng có đen, có cao có thấp, có trong có ngoài.

Hễ đời có đau khổ thì chắc chắn có cái không đau khổ. Vậy bây giờ làm sao, làm sao để tìm ra con đường đó đây. Ngài lại suy nghĩ con đường thứ hai. Toàn bộ nếp sống của vô lượng chúng sanh trong vũ trụ này (trong cái biết của Ngài lúc đó), Ngài nói trong nếp sống chúng sanh chỉ gồm có hai là ác và thiện, thì mình nên sống ác để tìm con đường giải thoát hay là nên sống thiện để tìm ra con đường giải thoát. Tự Ngài thấy thôi. Tự Ngài thấy, thứ nhứt là Ngài tin trên đời này có một cứu cánh giải thoát. Thứ hai là bằng cách nào để đến được cứu cánh đó thì tự Ngài nghĩ: bằng con đường nào, ác hay thiện? Ngài thấy rằng ác là con đường không khả thi. Bởi vì khi mình sống ác là sống u mê, mà u mê làm sao mình thấy đường nữa. Vậy chỉ có con đường sống thiện thôi. Sống thiện, trước mắt thiện là ánh sáng, sống thiện thì mình mới thấy đường mình đi tiếp. Thế là Ngài sống thiện, theo đuổi lý tưởng giải thoát. Mơ hồ mông lung vậy thôi không có thầy bà nào dạy hết.

Thì khi trải qua nhiều kiếp như vậy, tấm lòng son ấy không phai nhạt. Công đức ngày một nhiều một dầy một sâu một nặng. Tự nhiên với một tâm tưởng lý tưởng ấy, cộng với chừng ấy công đức thì Ngài gặp chư Phật. Chư Phật vừa nhìn thấy là biết ngay đây là chủng tánh Phật đạo đang nằm trước mắt. Thế là chư Phật thi nhau khích lệ. Phật nào gặp Ngài cũng đều nói câu hai câu để khích lệ Ngài. Khi nhân duyên đầy đủ rồi thì vị Phật đầu tiên thọ ký cho Ngài đó là Phật Nhiên Đăng. Tức là sau khi Ngài gặp vô số Phật rồi, không có vị nào thọ ký cho Ngài hết thì cuối cùng đến vị Phật lần đầu thọ ký cho Ngài là Đức Phật Nhiên Đăng. Nhiều người VN hiểu lầm, nghe vị Phật đầu tiên thọ ký cho Ngài thì hiểu đầu tiên nghĩa là trước Đức Phật Nhiên Đăng không có Phật nào. Không phải vậy! Giống như tôi nói "Tôi đi cả buổi sáng ngoài chợ mà không có ai cho tôi cái gì để ăn. Mà người đầu tiên hồi sáng giờ cho tôi chút gì để bụng chính là bà lão đó". Nói vậy không có nghĩa là trước bà lão tôi không gặp ai. Tôi gặp nhiều lắm nhưng không ai cho tôi ăn hết. Chỉ có bà lão đó thôi. Các vị nghe kịp chưa? Thì khi Ngài gặp Đức Phật Nhiên Đăng, Đức Phật Nhiên Đăng xét thấy Ngài đã trải qua 16 A tăng kỳ đại kiếp. (A tăng kỳ là 10 lũy thừa 140 ).

Ngài thấy rằng vị này đã trải qua 16 A tăng kỳ nuôi lớn chí nguyện Phật đạo, hôm nay là công viên quả mãn vừa thích hợp để gặp Như Lai và Như Lai xác định vị này chắc chắn sẽ thành Phật. Ngài nhìn Ngài biết. Thọ ký không phải là chư Phật ban cho mình cái gì hết mà chư Phật chỉ xác nhận. Điều đặc biệt là chư Phật không bao giờ nói hai lời. Cho nên khi Đức Phật nói ngươi chắc chắn sẽ thành Phật thì chuyện đó không thay đổi. Khi Phật thọ ký rồi thì Bồ tát bội phần hoan hỷ. Kể từ đó về sau Ngài đương nhiên trở thành vị Bất thối Bồ tát, nghĩa là không có thay đổi chí hướng nữa.

Trong khi ngài Xá Lợi Phất có lần phát nguyện thành Phật, ta sẽ hành đạo như thế này: "Ai xin gì ta cũng cho không màng không tiếc". Lúc đó có người thử đến xin ngài con mắt, ngài móc ra ngài cho. Ông đó cầm con mắt thấy ghê quá ông liệng xuống đất. Ngài nhìn thấy chuyện ngài móc mắt ra đau đớn, con mắt là vật quý như vậy mình móc cho nó mà nó liệng dưới đất, ngài thấy nản quá và rồi thối chí, thế là ngài chuyển nguyện. Ngài không nguyện thành Phật nữa chỉ vì chuyện đó. Còn Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni và vô số Bồ Tát khác kiên trì theo đuổi. Thí dụ như mình dám móc mắt cho đó là hạnh bố thí, đau đớn cỡ nào cũng chịu được là hạnh nhẫn nại, hiểu được vì sao mình làm chuyện này đó là trí tuệ. Bố thí không phải cầu quả vị sanh tử chỉ hướng tới Phật đạo thì đó là ly dục ba-la-mật. Như vậy là trí ba-la-mật, nhẫn nại ba-la-mật và ly dục ba-la-mật.

Ở đây tôi nói theo hệ thống thập độ của Nam truyền chứ không phải là lục độ của Bắc truyền. Ngay cả khi mình cho mà người ta cũng không có vẻ trân quý vật cho của mình thì mình vẫn giữ, đó là xả ba-la-mật. Ngài Xá Lợi Phất thuở xưa ngài chưa đến trình độ đó cho nên ngài chịu không nỗi. Riêng những vị sẽ thành Phật thì họ hay lắm, cho cái khó cho, làm chuyện khó làm, mà nếu như gặp phải sự bẻ bàng ghẻ lạnh của thế nhân thì cũng không sao, chúng sanh không xứng đáng với tấm lòng của mình nhưng mình vẫn đối xử với chúng bằng tấm lòng của một người mẹ thì lúc bấy giờ lại thành tựu thêm một ba-la-mật nữa đó là hành xả ba-la-mật. Có nghĩa là đụng đâu các ngài cũng tu được. Tức là cuộc đời này chúng sanh có quỳ lại hay lấy thùng rác úp lên đầu thì ngài cũng giữ tâm dửng dưng, đó là xả ba-la-mật. Tại sao ngài làm được như vậy? Vì ngài hiểu đời phải như vậy, không phải như vậy không phải là đời. Thì đó chính là trí tuệ ba-la-mật. Bao nhiêu đắng cay chua chát ngài cũng chịu được đó là nhẫn nại ba-la-mật, và chừng ấy việc khó khăn mà ngài vẫn làm được, chỉ vì nhắm đến lý tưởng giải thoát trở thành một vị Phật thì đó gọi là ly dục ba-la-mật, và lòng đã quyết thì không thối chí, đó là quyết định ba-la-mật, nghị lực ba-la-mật, kiên trì ba-la-mật .

Sau khi gom đủ chừng ấy công đức, bao nhiêu hạnh lành trải qua vô lượng kiếp, cuối cùng ngài cũng trở thành một vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thì bao nhiêu hạnh lành ba-la-mật đó gọi gọn trong một chữ Duyên. Do chừng ấy duyên cuối cùng ngài có 32 hảo tướng và trí tuệ của Chánh Đẳng Giác là không có gì là ngài không biết, tấm lòng của vị Chánh Đẳng Giác là ai ngài cũng thương. Trong lòng ngài không hề có sự phân biệt khi một người có lòng đang muốn giết ngài hay một người đang có lòng bỏ mạng vì ngài, ngài coi hai người đó giống nhau. Và đạo hạnh của ngài là không có đức lành nào là ngài không có.

Ba cái này cũng là do các duyên công đức nhiều đời mà có, rồi 32 hảo tướng, có trí tuệ hạnh lành ngài vẫn tiếp tục lên đường đi hoằng pháp tuỳ duyên.

Một lần nữa đắc đạo là do các duyên, đi hoằng pháp lại là do các duyên, khi công viên quả mãn chọn một góc rừng nào đó để xả bỏ báo thân xuôi tay mà ra đi. Đời gọi là viên tịch hoặc là Niết-bàn. Có nghĩa là cũng để lại tấm thân trên mặt đất đau thương này.

Vậy thì do duyên mà Phật đến rồi cũng do duyên mà Phật đi, do duyên mà chư Phật xuất hiện ở đời rồi cũng do duyên mà chư Phật biến mất ở đời. Vậy thì ngay cả chư Phật vĩ đại dường ấy mà cũng không nằm ngoài dòng cương tỏa của quy luật vạn hữu, tùy duyên như hữu. Tức là mọi thứ ở đời do duyên mà có. Nói như vậy có nghĩa là bản thân chư Phật còn nằm trong vòng vô thường-khổ-vô ngã thì nói gì những thứ ngoài ra. Cho nên trong kinh này ngài nói rằng dầu các đấng Như Lai có ra đời hay không thì mọi sự ở đời hễ có mặt là phải vô thường-khổ-vô ngã. Đó là luật chung.

Bên hệ Phật giáo hậu thời thì họ tô vẽ Đức Phật trở thành một ông thánh, ông thần mơ hồ lấp lánh lung linh. Tôi phải nói đó là lợi bất cập hại. Mình thương mình quý Phật mình phải hiểu Phật ở đâu mà có? Phật là gì? Phật đã dạy gì? Chứ không phải mình thương mình quý rồi mình tô vẽ chung quanh ngài một màu, một quầng sáng huyền hoặc hoang tưởng, thì cái đó là bệnh.

Tôi nhắc lại: Chánh pháp không cần ai bảo vệ, chánh pháp cần được hiểu. Đức Phật không cần ai tô vẽ mà Đức Phật chỉ cần được hiểu. Và đối với tăng chúng cũng không cần phải quỳ lạy tôn vinh rải hoa lót thảm. Phật tử hiểu tăng chúng là đã mừng rồi, tại sao không tóc và tại sao đắp y? Pháp học là gì? Pháp hành là gì? Thì hỗ trợ cho tăng chúng đó là quý. Hiểu tăng rồi hộ tăng đó chính là độ tăng. Cho nên Tam Bảo không cần mình phải tôn vinh vẽ vời huyền hoặc hoang tưởng, mà cần được hiểu.

Ở đây Đức Phật ngài dạy: "Có bao nhiêu điều ta đã giảng dạy cho các con, dầu ta có ra đời hay không ra đời thì những sự thật ấy muôn đời là vậy". Bài kinh này sâu ở chỗ khi mà ngài nhấn mạnh như vậy thì mình mới thấy rùng mình. Thì ra hễ có mặt trên đời này, không gian nào thời gian nào đi nữa, có chư Phật hay không có chư Phật thì sanh, lão, bệnh, tử, vô thường, khổ, vô ngã, công thức vạn hữu do duyên mà có, có rồi phải mất. Công thức này muôn đời là vậy.

Cho nên trên đời này không có gì là thường, chỉ có duy nhất một thứ thường đó là luật vô thường. Luật này không bao giờ biến mất cuộc đời này…!

-Sư Giác Nguyên ~ Toại Khanh-

[Chép lại bài giảng của Sư]

Last updated: January 11, 2025